“Con đường tiến tới xã hội chủ nghĩa của các dân tộc là con đường chung của thời đại, của lịch sử, không ai ngăn cản nổi”.
Câu nói trên được trích trong phát biểu của Chủ tịch Hồ Chí Minh tại tiệc chiêu đãi của Chủ tịch Dapôtốtxki nước Cộng hòa Tiệp Khắc ngày 20 tháng 7 năm 1957 nhân dịp Người sang thăm và làm việc với nước bạn. Đây là thời kỳ toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta tiến hành đồng thời hai chiến lược cách mạng: Xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và kiên trì thực hiện Hiệp định Giơnevơ để thống nhất Tổ quốc bằng phương pháp hòa bình.
Hồ Chí Minh một mặt khẳng định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội là chân lý của thời đại, dù có khó khăn, gian khổ đến đâu, nhưng đó chắc chắn là quy luật phát triển tất yếu của xã hội loài người. Mặt khác, đó còn là sự khẳng định về tính đúng đắn, sáng tạo của của Đảng Cộng sản Việt Nam trong xác định con đường đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Người đã thay mặt nhân dân và Chính phủ Việt Nam bày tỏ sự tin tưởng và cảm mến với những thành quả của sự nghiệp cách mạng mà nhân dân, Chính phủ Tiệp Khắc anh em đã giành được và khẳng định tinh thần đoàn kết quốc tế trong sáng giữa nhân dân hai nước để cùng tiến bước trên con đường đi lên chủ nghĩa xã hội.
Lời dạy của Bác là cơ sở quan trọng để Đảng ta nghiên cứu, vận dụng, phát triển trong cương lĩnh xây dựng đất nước, xác định hai nhiệm vụ chiến lược của cách mạng Việt Nam và tiến hành sự nghiệp đổi mới đất nước trong điều kiện thế giới có nhiều biến động, nhất là giai đoạn cuối thế kỷ XX khi Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu lâm vào thoái trào và sự chống phá quyết liệt của các thế lực thù địch thông qua chiến lược “diễn biến hòa bình”, “bạo loạn lật đổ”, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ hiện nay. Thành tựu bước đầu rất quan trọng của hơn 30 năm tiến hành sự nghiệp đổi mới dưới sự lãnh đạo của Đảng càng làm sáng tỏ cơ sở khoa học, cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và sự kiên định của Đảng, Nhà nước và Nhân dân ta là đúng đắn, hợp quy luật.
Quân đội nhân dân Việt Nam do Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập, lãnh đạo và rèn luyện, thấu triệt lời Bác Hồ dạy, cán bộ, chiến sĩ toàn quân luôn tin tưởng tuyệt đối vào sự lãnh đạo của Đảng, kiên định mục tiêu, lý tưởng chiến đấu; nêu cao tinh thần chịu đựng gian khổ, hy sinh, sẵn sàng nhận và hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao. Trong bất kỳ hoàn cảnh nào, cũng kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa... hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân. Kiên quyết đấu tranh bảo vệ đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; có thái độ phân biệt đúng, sai, không dao động trước các tác động tiêu cực, khó khăn, hiểm nguy, xứng đáng với danh hiệu cao quý “Bộ đội Cụ Hồ” và luôn là chỗ dựa tin cậy của Đảng, Nhà nước và nhân dân.
____________
Ngày 20-7-1921, Nguyễn Ái Quốc nhận được giấy mời dự cuộc họp thông báo lần cuối cùng về Điều lệ của Hội Liên hiệp thuộc địa.
Ngày 20-7-1922, báo L’Humanité (Nhân Đạo) đăng bút ký “Con người biết mùi hun khói” của Nguyễn Ái Quốc viết bằng tiếng Pháp. Bằng ngòi bút viễn tưởng, bài ký hình dung ra một nước Cộng hòa Phi châu vào năm 1998 đã thiết lập chế độ Xôviết và nhân vật cụ Kimengo một chiến sĩ cách mạng lão thành lúc này đã là công sứ đại diện cho nước Pháp đã ôn lại quá khứ cay đắng của chế độ thuộc địa và sự giác ngộ tình hữu ái và chủ nghĩa cộng sản đã làm thay đổi thân phận các dân tộc.
Ngày 20-7-1931, liên quan đến “vụ án Nguyễn Ái Quốc ở Hồng Kông”, Tống Văn Sơ bị thẩm vấn lần thứ ba.
Ngày 20-7-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp tục những cuộc tiếp xúc với các nhà chính khách và trí thức Pháp. Bác đến thăm vợ chồng nhà bác học Giuliô Quyri cả hai ông bà đều sốt sắng đồng tình với cuộc vận động độc lập của Việt Nam. Trong lúc nói chuyện, ông Quyri tỏ ý rằng khoa học Pháp sẽ sẵn lòng giúp đỡ khoa học Việt Nam tiến bộ.
Ngày 20-7-1953, trong bài viết “Đảng Lao động Việt Nam lãnh đạo kháng chiến kiến quốc” (bút danh Đ.X) phân tích vai trò to lớn của Đảng nhưng quy lại một nguyên lý quan trọng là: “Đảng viên và cán bộ phải làm cho dân tin, dân phục, dân yêu”.
Ngày 20-7-1954 là ngày ký kết Hiệp định Giơnevơ về đình chiến ở Đông Dương, nhưng Hiệp định này đã bị Mỹ và tay sai phá hoại. Kể từ đó ngày 20-7 trở thành “Ngày đấu tranh thống nhất Bắc - Nam”, Bác thường ra lời kêu gọi nhân dân cả nước. Kỷ niệm 11 năm ký kết Hiệp định, trong lời kêu gọi ngày 20-7-1965, Bác khẳng định ý chí của dân tộc Việt Nam “dù phải chiến đấu 5 năm, 10 năm, 20 năm hoặc lâu hơn nữa, chúng ta cũng kiên quyết chiến đấu đến thắng lợi hoàn toàn”.
Ngày 20-7-1956, Bác thăm và nói chuyện với đồng bào và cán bộ tỉnh Phú Thọ “để đôn đốc thêm đồng bào và cán bộ tỉnh nhà quyết tâm làm cho vụ mùa năm nay thành một vụ mùa thắng lợi... Trong kháng chiến, đồng bào và cán bộ Phú Thọ đã có nhiều thành tích vẻ vang, đã góp phần xứng đáng vào sự nghiệp giải phóng hoàn toàn miền Bắc nước ta. Ngày nay, trong sự nghiệp xây dựng hòa bình, đồng bào và cán bộ phải phát triển truyền thống anh dũng ấy, ra sức thi đua khắc phục mọi khó khăn, đảm bảo vụ mùa thắng lợi, hoàn thành tốt kế hoạch Nhà nước”. Thăm Nhà máy chè Phú Thọ do Liên Xô giúp đỡ xây dựng vừa khánh thành, Bác nhắc nhở cán bộ, công nhân viên phải sản xuất ra những sản phẩm có chất lượng quốc tế để xuất khẩu.
Ngày 20-7-1968, trong lời kêu gọi, Bác khẳng định lập trường: “Nhân dân ta rất yêu chuộng hòa bình nhưng phải có độc lập, tự do thật sự thì mới có hòa bình chân chính... Cách duy nhất để lập lại hòa bình là quân Mỹ và quân chư hầu phải rút hết về nước! Nước Việt Nam của người Việt Nam!”.
Ngày 20-7-1969, vào thời điểm Tổng thống Mỹ Níchxơn gửi thư “kêu gọi hòa bình”, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vạch trần âm mưu “Việt Nam hóa chiến tranh” kêu gọi cả nước “triệu người như một, nêu cao chủ nghĩa anh hùng cách mạng, không sợ hy sinh, không sợ gian khổ, quyết kiên trì và đẩy mạnh cuộc kháng chiến, quyết chiến quyết thắng, đánh cho quân Mỹ phải rút hết sạch...”.